• THỜI GIAN LÀM VIỆC

    Thứ Hai- CN: 8.00 - 18.00

  • TƯ VẪN HỖ TRỢ

    0989 77 11 77

Quy trình chữa bệnh bạch cầu tủy mạn tính bằng Tế Bào Gốc

Bệnh bạch cầu tủy mạn tính – tên khoa học Chronic myeloid leukemia (CML) – còn được gọi là bệnh bạch cầu dòng tủy mãn tính là một loại ung thư tế bào máu phổ biến. Thuật ngữ “mạn tính” chỉ ra bệnh ung thư này thường tiến triển chậm hơn so với các hình thức cấp tính khác của bệnh bạch cầu. “Tủy xương” dùng để chỉ các loại tế bào bị tác động bởi căn bệnh ung thư này.

Trong CML, một sự thay đổi di truyền xảy ra trong một phiên bản chưa trưởng thành của các tế bào dòng tủy – các tế bào tạo tế bào hồng cầu, tiểu cầu, và hầu hết các loại tế bào máu trắng (trừ các tế bào lympho). Sự thay đổi này tạo thành một gen bất thường gọi là BCR-ABL, biến tế bào thành tế bào CML. Các tế bào bạch cầu phát triển và phân chia, xây dựng trong tủy xương và tràn vào máu. CML là một bệnh bạch cầu phát triển khá chậm, nhưng nó cũng có thể thay đổi vào một bệnh bạch cầu cấp tính phát triển nhanh chóng đó là khó khăn để điều trị.
Chữa bệnh bạch cầu lymphocytic mãn tính - Ung thư máu và tủy xương

Triu chng bệnh bạch cầu tủy mạn tính

Trong giai đoạn đầu, bệnh bạch cầu tủy mạn tính thường không gây triệu chứng đáng chú ý. Khi điều kiện phát triển, các triệu chứng bao gồm:

  • Mệt mỏi
  • Giảm cân
  • Đổ mồ hôi đêm
  • Cảm giác đầy hơi
  • Bầm tím
  • Đau xương

Nguyên nhân bnh bch cu ty mạn tính

  • Bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính xảy khi có sự đột biến trong gen của các tế bào máu. Quá trình đột biến gen này diễn ra chậm rãi và âm thầm, có 3 giai đoạn phát triển
    Quy trình chữa bệnh bạch cầu tủy mạn tính bằng Tế Bào Gốc

Giai đon 1: mt nhim sc th bt thường phát trin

  • Một tế bào bình thường có chứa tổng cộng 23 cặp nhiễm sắc thể. Trong nhiễm sắc thể giữ DNA chứa gen tạo nên điều kiện của cơ thể. Ở những người bị bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính, các nhiễm sắc thể không chuyển mạch thành từng cặp như người bình thường, ví dụ một phần của nhiễm sắc thể 9 một phần của nhiễm sắc thể 22 chuyển mạch với nhau, tạo ra một đột biến nhiễm sắc thể. Nhiễm sắc thể này gọi là nhiễm sắc thể Philadelphia. 90% những người bị bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính có nhiễm sắc thể này trong gen

Giai đon 2: đột biến nhiễm sc th sinh ra mt gen mi

  • Các nhiễm sắc thể bị biến đổi Philadelphia sẽ tạo ra một gen mới. Như đã nói ở trên, nhiễm sắc thể 9 kết hợp với nhiễm sắc thể 22 để tạo ra một gen hoàn toàn mới mới gọi là BCR – ABL. Gen BCR – ABL ra lệnh cho các tế bào máu sản xuất quá nhiều protein bất thường gọi là tyrosine kinase, chất này thúc đẩy ung thư bằng cách giải phóng những tế bào máu chưa hoàn thiện phát triển ra khỏi tủy xương

Giai đon 3: Các gen mi gây bnh cho các tế bào máu

  • Khi tủy xương (phần xốp trong xương) bình thường, nó tạo ra các tế bào các tế bào hồng cầu, các tế bào bạch cầu và tiểu cầu một cách có kiểm soát. Những tế bào này sau dần trưởng thành và tạo thành các loại tế bào máu bình thường lưu thông trong cơ thể chúng ta.
  • Tuy nhiên quá trình này sẽ bị lỗi trong bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính. Gen BCR – ABL tạo ra quá nhiều tế bào bạch cầu. Và gần như tất cả những nhiễm sắc thể philadelphia đều bất thường. Các tế bào bạch cầu này phát triển với số lượng rất lớn, lấn át các tế bào máu khỏe mạnh, ảnh hưởng đến tủy xương
    Quy trình chữa bệnh bạch cầu tủy mạn tính bằng Tế Bào Gốc

Cha bnh bnh bch cu ty mạn tính bng tế bào gc

  • Thông thường của các loại thuốc hóa trị có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng để nhanh chóng phân chia mô như tủy xương. Mặc dù liều cao hơn của các loại thuốc này có thể tốt hơn trong việc tiêu diệt các tế bào ung thư máu, tuy nhiên nó cũng giết chết các tế bào khỏe mạnh, gây tổn hại đến tủy xương và các tế bào máu bình thường.
  • Đối với một ca ghép tế bào gốc (SCT), liều cao của hóa trị liệu được đưa ra để tiêu diệt tế bào ung thư máu. Toàn bộ cơ thể cũng bị ảnh hưởng bức xạ thấp. điều trị này giết chết các tế bào bạch cầu, nhưng cũng làm tổn hại các tế bào tủy xương bình thường. Sau đó, bệnh nhân nhận được cấy ghép tế bào gốc tạo máu để phục hồi tủy xương. Tế bào gốc tạo máu được sử dụng để ghép được thu được từ máu (gọi là cấy ghép tế bào gốc máu ngoại vi, hoặc PBSCT) hoặc từ tủy xương (gọi là cấy ghép tủy xương, hoặc BMT). Cấy ghép tủy xương là phổ biến hơn trong quá khứ, nhưng nó phần lớn đã được thay thế bằng PBSCT.

Có 2 loại chính của việc cấy ghép TBG là đồng loại và tự thân

  • Đối với ghép tự thân: các tế bào gốc của chính bệnh nhân được thu thập từ máu hoặc tuỷ xương và sau đó được cấy ghép trở lại sau khi điều trị. Vấn đề với đó là các tế bào bạch cầu có thể được thu thập bằng các tế bào gốc
  • Trong cấy ghép đồng loại: các tế bào gốc lấy từ người khác (một người tự nguyện). Để giảm nguy cơ biến chứng, những người hiến tế bào gốc cần phải “phù hợp” bệnh nhân về loại mô. Thông thường, một người thân, như một người anh em hay chị em là một trận đấu tố
    Quy trình chữa bệnh bạch cầu tủy mạn tính bằng Tế Bào Gốc

Quy trình chữa bệnh bạch cầu tủy mạn tính bằng TBG

  • Các tế bào gốc được kích hoạt để di chuyển vào tủy xương bằng các tín hiệu từ các mô dựa trên hóa chất, thần kinh. Phần còn lại của việc chữa bệnh được thực hiện bởi các tế bào khác được sinh ra và quản lý bởi các tế bào gốc ban đầu. Đây là lý do tại sao chỉ tiêm một lượng rất nhỏ các tế bào gốc ban đầu. Tiêm số lượng lớn các tế bào gốc sẽ không có hiệu ứng tốt hơn và có thể gây ra một số phản ứng phụ với người bệnh.
  • Bởi việc thu thập các tế bào gốc của bệnh nhân cũng có thể thu thập các tế bào ung thư máu, cấy ghép đồng loại là loại chính của cấy ghép sử dụng để điều trị bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu tủy mạn tính (CML). Cấy ghép tế bào gốc đồng loại là phương thuốc duy nhất chữa khỏi bệnh CML. Tuy nhiên, loại cấy ghép này có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng hoặc thậm chí đe dọa tính mạng và tác dụng phụ, và nó thường không phải là một lựa chọn tốt ở những người lớn tuổi hoặc có vấn đề về sức khỏe khác.
  • Trước khi thuốc điều trị hiện đại như imatinib (Gleevec), đã được sử dụng phổ biến để điều trị CML. Các loại thuốc đã có sẵn tại thời điểm này đã hoạt động khá hiệu quả. Ngày nay, các loại thuốc như imatinib là phương pháp điều trị phố biến, tuy nhiên cấy ghép vẫn được sử dụng để tránh các tác dụng phụ, Bác sĩ có thể vẫn khuyên bạn nên ghép cho bệnh nhân trẻ, đặc biệt là trẻ em. Nó có nhiều khả năng được xem xét cho những người có một nhà tài trợ phù hợp có sẵn, giống như một người anh em tốt phù hợp hoặc em gái. Ghép cũng có thể được khuyến cáo nếu CML không đáp ứng tốt với các thuốc nhắm mục tiêu.

***Kết quả có thể khác nhau tùy theo cơ địa của mỗi người.

Đăng Ký Tư Vấn Miễn Phí

Hotline: Phone, Zalo, Viber, WhatsApp
Vietnamese: 0989 77 11 77 - 0909 12 96 98
English: 0938 18 96 96

Họ tên *

Vui lòng cho chúng tôi biết tên bạn để tiện xưng hô
Số ĐT *

Số ĐT hoặc Zalo

Email *

Email / Fb

Nội dung đăng ký * hoặc số ĐT Zalo nhé!

   0989 77 11 77

(*) Kết quả tuỳ thuộc vào số lượng nội tiết tố từng người
Tư Vấn Online 24/7